Thứ Sáu, 29 tháng 5, 2026

Tại sao chúng ta cần Chúa Thánh Thần để sống “Con Đường Nhỏ”

Một người bạn Công giáo của tôi, khi nói về “con đường nhỏ” của thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, từng cho rằng: “Trở nên nhỏ bé thì thật là cao cả - nếu chúng ta có thể thực hiện được.” Nhưng trong ánh mắt của anh, tôi thấy một nỗi buồn lặng lẽ, như thể anh không tin rằng mình có thể làm được điều đó. Dù bản thân tôi đã nhận được nhiều sự an ủi khi đọc các tác phẩm của thánh Têrêsa, tôi cũng đã từng trải qua một cảm giác chán nản tương tự. Thánh Têrêsa nói về một “chiếc thang,” cũng là đôi tay của Đức Giêsu, nâng chị lên sự thánh thiện, bởi vì chị không thể tự mình leo lên những bậc thang dốc đứng của sự hoàn thiện. Như thế, Chị chỉ cần hành động với sự phó thác trọn vẹn và lòng tín thác vô biên, và Đức Giêsu sẽ nâng Chị lên đến sự thánh thiện. Nhưng đối với tôi, chính những lời ấy lại như những bậc thang khác. Chúa biết rõ rằng lòng tín thác của tôi thường không hề trọn vẹn như thế. Tôi biết rằng mình cần phải kiên trì thực hiện những việc làm nhỏ bé của mình bằng tình yêu và lòng tín thác, nhưng liệu tôi có đủ kiên trì chăng? Hay tôi sẽ liên tục trượt ngã khỏi con đường nhỏ ấy và tiếp tục sống trong một tình trạng tầm thường đầy chán nản?


Một ngày nọ, khi tôi đang suy nghĩ về nghịch lý này - tôi còn nhớ rõ đó là lúc mình đang đạp xe về nhà sau thánh lễ - bỗng nhiên lời của Đức Giêsu trên thập giá vang lên trong tâm trí tôi: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Ngay trong khoảnh khắc ấy, tôi nhận ra rằng chính Đức Giêsu đã thực hiện sự tín thác trọn vẹn ấy thay cho tôi. Đúng vậy, tôi không có khả năng đạt đến sự tín thác trọn vẹn nơi tình yêu Thiên Chúa, nhưng trái tim của Đức Giêsu hoàn toàn tín thác vào Chúa Cha, và Người có thể sống sự tín thác ấy trong tôi. Tôi có thể nương tựa vào sự tín thác của Người nơi Chúa Cha thay vì dựa vào chính mình. Có thể đối với một tâm hồn đang tìm kiếm điều tương tự, điều này vẫn chưa đủ, và Thiên Chúa sẽ dẫn họ đến một sự hiểu biết sâu xa hơn. Nhưng đối với tôi, chỉ nhiêu đó là đủ. Nếu Đức Giêsu đã mang lấy nơi mình những cám dỗ chống lại sự tín thác của tôi, hệ tại ngay trong lời kêu trên thập giá: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con”, thì tôi cũng có thể đón nhận tiếng kêu tín thác của Người làm của mình: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.”


Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã viết trong tự truyện của mình rằng sự thánh thiện là “một khuynh hướng của tâm hồn giúp ta nên khiêm nhường và nhỏ bé trong vòng tay của Thiên Chúa, ý thức rõ sự yếu đuối của mình, và đồng thời dám tín thác - theo cách táo bạo nhất - vào lòng nhân hậu của Người như một người Cha.” Nói cách khác, sự thánh thiện hệ tại ở việc nghỉ ngơi như một trẻ thơ trong vòng tay từ phụ của Thiên Chúa. Tuy nhiên, thánh nữ cũng nhận ra rằng mọi nỗ lực riêng của mình nhằm đạt đến sự thánh thiện đều là bất lực. Vì thế, chị đã kêu lên cùng Thiên Chúa: “Con nài xin Chúa… chính Ngài hãy là sự thánh thiện của con!” Vậy thì, chị thánh đã nhận được lòng tín thác vào sự nhân hậu của Thiên Chúa - tức là sự thánh thiện của mình - từ đâu, nếu không phải từ chính Thiên Chúa? Và tinh thần đơn sơ như trẻ thơ của chị phát xuất từ đâu, nếu không phải là món quà từ chính Đức Kitô?


Xét trong tương quan với chúng ta, Đức Giêsu là Vua trên hết các vua; nhưng trong tương quan với Chúa Cha, Người là một người Con hoàn toàn tín thác. Trong bản tính thần linh, Người Con đồng bản thể với Chúa Cha về mọi phương diện, từ đời đời Người đã lãnh nhận chính hữu thể của mình từ nơi Chúa Cha. Cuộc sống phàm nhân của Người diễn tả chân lý này: “Thật, tôi bảo thật các ông: Người Con không thể tự mình làm bất cứ điều gì, ngoại trừ điều Người thấy Chúa Cha làm… Chúa Cha yêu người Con và cho người Con thấy mọi điều mình làm… vì tôi không tìm cách làm theo ý riêng tôi, nhưng theo ý Đấng đã sai tôi.” (Ga 5,19-30). Ngay từ lúc khởi đầu sứ vụ, Chúa Cha đã công bố cho những người chung quanh điều mà Đức Giêsu hẳn đã luôn ý thức: Người là Con yêu dấu, đẹp lòng Chúa Cha. Cũng vậy, trước mồ Lazarô, Người cầu nguyện: “Lạy Cha, con cảm tạ Cha vì Cha đã nhậm lời con… Cha hằng nhậm lời con” (Ga 11,41-42). Khi Người dạy các môn đệ nhìn nhận Thiên Chúa như một người Cha yêu thương và quan phòng, Người nói từ chính kinh nghiệm sống của mình. Chính từ lòng tín thác này, Người có thể trở nên khiêm hạ trước thế gian: Người quỳ xuống rửa chân cho các Tông Đồ; Người để mình bị bắt, dù Chúa Cha có thể sai các đạo binh thiên thần đến giải cứu người; Người rộng tay đón nhận sự nhạo báng và nhục nhã trên thập giá; và trong khi có thể nguyền rủa số phận mình, Người lại xin Thiên Chúa tha thứ, và bước vào cái chết như một trẻ thơ trao mình vào vòng tay Cha chí ái. Chính Người là Đấng mà từ đó thánh Têrêsa đã học được sự can đảm, tín thác, khiêm nhường và phó thác.


Thiếu lòng tín thác vào tình phụ tử của Thiên Chúa có thể được xem như căn nguyên sâu xa nhất của tội lỗi. Liệu chúng ta có nghĩ rằng Đức Giêsu mong đợi chúng ta tự sức mình vượt thắng tội ấy không? Không thể nào! Nhưng chính Đức Giêsu đã thực hiện hành vi phó thác trọn vẹn và đầy tín thác đối với Chúa Cha, và Người trao ban Chúa Thánh Thần - Thần Khí làm cho chúng ta nên nghĩa tử - ngự vào lòng chúng ta, để chúng ta được tái sinh làm con cái Thiên Chúa và có thể kêu lên: “Abba! Cha ơi!” Con đường nhỏ của chị thánh Têrêxa, qua việc nhấn mạnh đến sự hy sinh ý riêng của mình cho Thiên Chúa trong những hoàn cảnh nhỏ bé nhất, chính là con đường của sự ngoan ngoãn trước Chúa Thánh Thần, Thần Khí của tình nghĩa tử. Trong tự truyện của mình, thánh Têrêsa đã nhiều lần xin ơn cần thiết trong từng hoàn cảnh cụ thể: xin những lời thích hợp để nói với người khác, xin sức mạnh khi phải chiến đấu với cám dỗ, xin sự hướng dẫn khi viết lại câu chuyện đời mình. Với lòng khao khát phó thác ý mình cho ý Thiên Chúa, chị nhận ra rằng mình không thể làm điều đó bằng sức riêng. Vì thế, chị thánh cầu xin được Thánh Thần hướng dẫn và thúc đẩy. Nhờ đó, chị được biến đổi nên giống hình ảnh Đức Kitô, Đấng mà bản tính nhân loại luôn được Chúa Thánh Thần dẫn dắt cách hoàn hảo.


Có nhiều cách để chúng ta cộng tác với hoạt động của Chúa Thánh Thần và thăng tiến trong lòng tín thác. Sau đây là một vài gợi ý. Trước hết, chúng ta có thể dành thời gian thường xuyên đọc Tin Mừng. Nếu đã lâu chúng ta chưa đọc trọn một Tin Mừng nào đó, thì nên thực hiện điều đó. Chúng ta có thể dừng lại suy niệm những đoạn đã đánh động chị thánh Têrêsa, như dụ ngôn đứa con hoang đàng, con chiên lạc, câu chuyện người phụ nữ Samaria bên bờ giếng, hay câu chuyện của Maria Mađalêna. Kế đến, mỗi khi rước lễ (hoặc rước lễ thiêng liêng), chúng ta có thể xin cho được chia sẻ chính lòng tín thác của Đức Giêsu vào sự quan phòng đầy tình phụ tử của Thiên Chúa. Thứ ba, chúng ta có thể lắng nghe những khát vọng sâu xa nhất trong đời sống thiêng liêng của mình, những khát vọng mà đôi khi chúng ta ngại bày tỏ với người khác vì chúng dường như quá cao vời so với tình trạng hiện tại của mình, và bắt đầu cảm tạ Thiên Chúa trước vì Người sẽ hoàn tất những điều ấy. Vì “tất cả những gì anh em cầu xin, anh em cứ tin là mình đã được rồi, thì sẽ được như ý,” và “nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình của tốt của lành, phương chi Cha trên trời lại không ban Thánh Thần cho những kẻ kêu xin Người sao?” (Mc 11,24; Lc 11,13). Đồng thời, chúng ta hãy luôn chiêm ngắm Đức Giêsu trên thập giá và nhận ra rằng chúng ta chỉ đang bước vào chính sự tín thác trọn hảo của Người, vào chính sự thánh thiện của Người.


Trong thời gian sau dịp lễ Hiện Xuống này, khi chúng ta được mời gọi để thánh hóa những thực tại bình thường của đời sống mình, hãy nhớ rằng việc trở nên nhỏ bé là một nhiệm vụ vượt quá sức riêng của chúng ta. Chúng ta hãy cầu xin Chúa Thánh Thần, Thần Khí làm cho chúng ta nên nghĩa tử, và là Tình Yêu giữa Chúa Cha và Chúa Con, biến đổi chúng ta nên giống Đức Giêsu, để chúng ta cũng có thể sống với lòng tín thác đơn sơ của Người đối với Chúa Cha, và cùng với Người thưa lên: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.”

Nguồn: https://catholicexchange.com/


Tác giả: Melissa Dalimata


Chuyển ngữ: Jos. John B. | CTV JESCOM - Truyền Thông Dòng Tên




Thứ Hai, 8 tháng 12, 2025

ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI

Một trong những lễ đẹp lòng trái tim Mẹ Maria nhất, chắc hẳn là lễ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Thánh lễ này nhằm tôn kính đặc ân riêng cho Mẹ là đã được thụ thai trong lòng Thánh Anna một cách tinh tuyền không vương tì ố. Thiên Chúa đã giữ gìn Mẹ khỏi tội tổ tông, tội mà vì mọi người chúng ta khi sinh ra đều vướng mắc vì thuộc dòng giống Adam. Đức Maria, do một đặc ân duy nhất, từ lúc hình thai, vẫn luôn tinh tuyền xinh đẹp trước mặt Chúa. Bởi vậy, do ơn thánh và do cuộc sống, Mẹ luôn là đối tượng đẹp mắt Chúa, theo như lời Thánh Kinh đã được quy về Mẹ: Mẹ tuyệt mỹ, không hề vương vấn tội tình.

Người ta có thể tự hỏi, làm sao lại có đặc ân này? Để trả lời cho trường hợp đặc biệt này, chúng ta chạy đến ơn phúc của Chúa Giêsu Kitô. Ơn cứu chuộc của Chúa Kitô đã có sức mạnh toàn năng để cứu nhân loại khỏi tội nguyên tổ, cũng đã giữ gìn cho Mẹ khỏi tội tổ tông. Các nhà thần học đã chứng minh điều đó, các giáo phụ đã giảng dạy, các nhà giảng thuyết đã phổ biến... nhưng thời đại của chúng ta được thấy sự vinh quang cao cả này trở thành tín điều trong đức tin Kitô giáo, ngày 8-12-1854, trước sự hiện diện của 54 hồng y, 42 tổng giám mục và 92 giám mục cùng đoàn người đông đảo, Đức Giáo hoàng Piô IX, vị đại diện Chúa Kitô, đã tuyên bố tín điều từ bao thế kỷ đợi trông.

Dưới đây là những lý do khiến Giáo Hội công bố tín điều Đức Trinh Nữ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội.

1. Chúa Giêsu Kitô, vì sự thánh thiện của Ngài, phải được sinh ra bởi người mẹ vô nhiễm nguyên tội. Đấng tuyệt đối thánh thiện, lại chịu sinh ra từ một thân thể bị nhơ nhớp vì tội lỗi được sao

Thân xác của Chúa Kitô là xác thân bởi Mẹ Maria. Vậy nếu Mẹ Maria thụ thai trong tội, hẳn Ngài đã thông truyền cho Chúa Giêsu một xác thể bị nhơ uế vì tội lỗi: Quả là một điều ô nhục cho Chúa!

2. Vinh quang của Chúa Giêsu đòi hỏi phải giữ cho Mẹ Người khỏi vết nhơ tội nguyên. Mục đích của Chúa Con khi xuống trần gian này là để huỷ diệt quyền lực của quỷ dữ và tội lỗi. Người đã thắng ma quỷ khi nhờ phép rửa tội, đưa các Kitô hữu ra hỏi vòng tội lỗi, thanh tẩy các tội nhân nhờ phép giải tội. Người đã thắng ma quỷ cả trước khi Người nhập thể, như khi thánh hoá từ lòng mẹ tiên tri Giêrêmia, Thánh Gioan Tẩy Giả, Thánh Giuse bạn Đức Trinh Nữ. Nhưng những chiến thắng này chưa hoàn toàn. Còn một lúc mà quyền lực hoả ngục khoe khoang rằng: có thể làm cho ơn thánh bị vô hiệu, đó là lúc thụ thai. Vậy sự chiến thắng sẽ hoàn hảo nếu Mẹ Maria được ơn vô nhiễm nguyên tội; đặc ân này thể hiện lời hứa đã được loan báo từ trước: “Ta sẽ đặt hận thù giữa ngươi và người đàn bà, giữa dòng giống ngươi và dòng giống nó. Dòng giống nó sẽ đạp nát đầu ngươi, còn ngươi sẽ táp lại gót chân” (St 3,15).

Niềm tin vào ơn vô nhiễm nguyên tội của Đức Maria đã được chính Đức Mẹ chứng thực. Năm 1858, nghĩa là chỉ bốn năm sau ngày tuyên bố tín điều, Mẹ đã hiện ra tại Lộ Đức và tuyên bố: Ta là Đấng vô nhiễm nguyên tội ngay từ buổi đầu thai.

Việc mừng trọng thể lễ Đức Trinh Nữ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội vào Mùa Vọng có một ý nghĩa đặc biệt, như mừng “cuộc chuẩn bị căn bản cho Đấng Cứu Thế xuất hiện, vầng đông sáng tươi của một Hội Thánh không tì vết” (Marialis Cultus 3)

Chủ Nhật, 23 tháng 11, 2025

Vị Vua chẳng giống ai – Lễ Chúa Kitô Vua Vũ Trụ

Chúa Giêsu là Vua thế nào? chúng ta hãy nghe Đấng Phục sinh nói với các môn đệ về vương quyền của Người

Chúa nhật cuối cùng của năm Phụng vụ, Giáo Hội mời gọi chúng ta chiêm ngưỡng Chúa Giêsu với một danh xưng rất đặc biệt: Vua vũ trụ. Khi nói đến vua, chúng ta liên tưởng tới chế độ phong kiến lạc hậu của quá khứ xa xôi. Ngày nay, tại một số quốc gia, tuy vẫn tồn tại những vị vua, nhưng quyền của họ không phải là để điều hành một quốc gia, mà chỉ để duy trì truyền thống văn hóa.

Chúa Giêsu là Vua thế nào? chúng ta hãy nghe Đấng Phục sinh nói với các môn đệ về vương quyền của Người: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất” (Mt 28,18). Thánh Phaolô thì diễn tả như sau: “Như vậy, Người (Chúa Cha) đã tôn Đức Kitô lên trên mọi quyền lực thần thiêng, trên mọi tước vị có thể có được, không những trong thế giới hiện tại, mà cả trong thế giới tương lai. Thiên Chúa đã đặt tất cả dưới chân Đức Kitô và đặt Người làm Đầu Hội Thánh” (Ep 1.21-22).

Trong ngày Truyền tin, sứ thần Gáp-ri-en đã nói với Trinh nữ Maria: “Đức Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít. Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và Nước của Người sẽ vô cùng vô tận” (Lc 1,32-33).

Để trả lời cho câu hỏi của quan tổng trấn Philatô: “Vậy ông là Vua ư?”, Chúa Giêsu đáp: “Quan nói đúng. Tôi là Vua. Tôi sinh ra và đến trong thế gian này là chỉ để làm chứng về Chân lý. Ai thuộc về Chân lý thì nghe tiếng Tôi” (Ga 18,37).

Trong kinh Tin Kính, chúng ta tuyên xưng: “Và Người (Đức Giêsu) sẽ lại đến trong vinh quang, để phán xét kẻ sống và kẻ chết. Nước Người sẽ không bao giờ cùng”.

Những gì được trích dẫn trên đây cho thấy vương quyền hay tước hiệu “Vua” mà chúng ta dành cho Chúa Giê-su không giống như khái niệm thường dùng trong xã hội trần thế. Trong khi rao giảng Tin Mừng, nhiều lần dân chúng muốn tôn Chúa Giêsu làm vua, nhưng Người đã “rút lui lên núi một mình” (Ga 6,15). Chúa không muốn cho người ta hiểu lầm về sứ vụ của Người. Bởi lẽ Người được sai đến trần gian không phải để được nổi tiếng và được người ta tung hô theo kiểu trần gian. Trái lại, Người luôn sống khiêm nhường để dạy con người về sự hy sinh từ bỏ, hướng về hạnh phúc của tha nhân. Chúa Giêsu là một vị Vua chẳng giống ai, vì Người không có cung điện, không quần thần, không tôi nam tớ nữ và cũng chẳng có ngai vàng. Sứ mạng của Chúa Giêsu là làm chứng cho Chân lý. Vương quốc của Người là vương quốc của Tình Yêu. Ngai vàng của Người là cây thập giá. Trên cây thập giá, Chúa đã trở người nghèo nhất trong số những người nghèo.

Nếu suy luận theo cách của con người, chúng ta sẽ thấy trình thuật của Tin Mừng thánh Luca cho thấy một điều hết sức nghịch lý, đó là khi Chúa Giêsu chịu khổ hình trên thập giá, thân thể trần trụi, đau đớn và cô đơn, thì chính lúc đó, một trong hai người trộm cùng bị hành hình với Người đã tôn nhận Chúa là Vua. Người này nói: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào nước của ông, xin nhớ đến tôi”. Cách nói “nước của ông” thể hiện sự công nhận người đang bị đóng đinh là Vua, có quyền hành đối với một vương quốc. Nếu Chúa Giêsu đã khẳng định Người là Vua trước tổng trấn Philatô, thì giờ đây, Người cũng khẳng định như thế, nhưng với một phong cách hoàn toàn khác. Chúa đã nói với người trộm sám hối: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên thiên đàng”. Qua câu tuyên bố này, Chúa Giêsu chứng tỏ Người có quyền tha thứ mọi tội lỗi và cũng có quyền cho một người vào thiên đàng. Quả thật, Chúa Giêsu là vị Vua chẳng giống ai.

Hai người cùng bị đóng đinh với Chúa Giêsu, nhưng thái độ của họ hoàn toàn khác nhau. Người này thì kiêu ngạo xỉ vả Chúa và thách thức Người; người kia thì khiêm tốn tuyên xưng Người là Vua. Suốt hai mươi thế kỷ, Giáo Hội không ngừng rao giảng Đức Giêsu chịu đóng đinh. Có những người lựa chọn Đức Giêsu là lẽ sống, và cây thập giá là niềm hy vọng; nhưng cũng có những người khước từ, thậm chí phỉ báng chê bai. Các tác giả Phúc âm kể lại, lúc Chúa bị treo trên thập giá, nhiều người đi ngang qua buông những lời châm biếm nhạo cười; nhưng khi chứng kiến Chúa trút hơi thở, nhiều người “đấm ngực trở về” như một cử chỉ hối hận (Lc 23,48). Hơn nữa, viên đại đội trưởng còn thốt lên: “Quả thật ông này là Con Thiên Chúa” (Mc 15,39). Thế đó, cuộc sống của chúng ta hôm nay cũng như ngày xưa, vẫn có những người đón nhận Vương quyền của Chúa Giêsu và vẫn có những người khước từ Vương quyền này.

Kitô hữu là người đón nhận và sống dưới vương quyền của Đức Kitô. Nói cách khác, chúng ta tôn xưng Chúa Kitô là Thày, là Chúa và là người hướng dẫn chúng ta trên mọi nẻo đường dương thế. Khi mang danh Kitô hữu là chúng ta thuộc về Đức Kitô, là người được xức dầu như Chúa Giêsu là Đấng được xức dầu. Vương quốc của Đức Giêsu không thu hẹp trong ranh giới một quốc gia, nhưng lan rộng khắp thế giới, vì “Thiên Chúa đã muốn đặt tất cả viên mãn nơi Người, và Thiên Chúa đã giao hoà vạn vật nhờ Người và vì Người. Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa ban hoà bình trên trời dưới đất”. (Bài đọc II).

Mỗi ngày chúng ta cầu nguyện: “Xin cho Nước Cha trị đến!”. Chúng ta tin rằng sự phát triển và lan rộng của nước trời đến từ quyền năng và tác động của Thiên Chúa. Tuy thế, mỗi chúng ta cũng có thể cộng tác phần mình để làm cho hình ảnh Nước Trời được tỏ hiện qua đời sống nhân ái và yêu thương của chúng ta.

+TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Nguồn: tonggiaophanhanoi.org

Thứ Bảy, 2 tháng 8, 2025

Nhớ lại “Tình Yêu Thuở Ban Đầu”

Khấn dòng không phải là một nghi thức long trọng rồi thôi, mà là một lời “xin vâng” phải được sống lại mỗi ngày, trong từng việc nhỏ, từng bước chân âm thầm. Ở lại với Chúa không phải lúc nào cũng là một cảm xúc rực sáng, nhưng luôn là một chọn lựa quý giá nhất của con tim biết thuộc về.



Dẫu đã hai mươi năm bước đi trong đời thánh hiến, nghĩa là cũng hai mươi mùa lễ khấn đi qua trong đời tôi, vậy mà không hiểu sao năm nay, khi ngồi trong nguyện đường quen thuộc, tôi lại thấy lòng mình dâng trào một cảm xúc lạ thường.


Chắc cũng vẫn là bài ca ấy, vẫn những bước chân rụt rè mà kiên định của các khấn sinh, tiếng hát ngân vang giữa làn khói hương trầm và ánh nến lung linh. Vậy mà trong cái gọi là quen thuộc, có một điều gì đó chạm đến tận sâu trong trái tim tôi, như một tiếng thì thầm rất khẽ: “Hãy nhớ lại tình yêu ban đầu…”.


Tôi ngồi im, không dám động đậy. Tôi sợ làm vỡ tan cảm xúc mỏng manh đang dâng lên trong lòng. Nhìn các em tiến lên, đặt tay trong tay Bề trên Tổng quyền, tôi như thấy lại chính mình của hai mươi năm về trước, một cô gái trẻ với trái tim đơn sơ, chẳng có gì ngoài một giấc mơ lớn là dâng trọn cuộc đời cho Chúa.


Hai mươi năm, nghe thì có vẻ dài đấy, nhưng thoáng cái đã trôi qua nhanh như chưa kịp chớp mắt. Có những ngày rộn ràng như ánh bình minh vừa ló rạng, cũng có những buổi chiều tà tắt nắng, lòng khô như đất sỏi. Có lúc hăng say muốn đánh đổi cả thế giới, cũng có khi chỉ mong sao giữ vững một nụ cười trong đời sống cộng đoàn. Nhưng rồi, thời gian trôi qua tôi nhận ra một điều tưởng là cũ nhưng đối với tôi luôn mới: Chúa vẫn luôn yêu tôi, và Hội dòng vẫn âm thầm nâng đỡ tôi bằng một tình yêu không lời.


Thánh lễ năm nay đã đánh thức trong tôi điều cốt lõi nhất: Khấn dòng không phải là một nghi thức long trọng rồi thôi, mà là một lời “xin vâng” phải được sống lại mỗi ngày, trong từng việc nhỏ, từng bước chân âm thầm. Ở lại với Chúa không phải lúc nào cũng là một cảm xúc rực sáng, nhưng luôn là một chọn lựa quý giá nhất của con tim biết thuộc về.


Tôi thầm tạ ơn Chúa vì tôi vẫn còn ở đây, vẫn còn được gọi là chị em trong gia đình Hội dòng nữ Đa Minh Thái Bình, vẫn còn được sai đi và trở về trong yêu thương. Tôi biết mình chẳng phải là một nữ tu thánh thiện hay gương mẫu, nhưng tôi vẫn là “người được yêu thương - được chọn” và điều đó là đủ!


Tôi muốn nói với các em; những tân khấn sinh hôm nay đang rạng rỡ và đầy nhiệt huyết: hãy cứ tin tưởng bước đi, dù con đường phía trước có khúc quanh co, gập ghềnh hay giông tố… hay cả những lúc “dầu đã cạn”; các em hãy tin rằng: Đấng đã bắt đầu nơi các em một công trình tốt lành, chính Ngài sẽ đích thân hoàn tất. Còn chị, người đi trước một đoạn đường hôm nay cũng được đánh thức, được làm mới lại, được mời gọi sống lời khấn hôm xưa với một trái tim tươi mới, thiết tha, và giản dị hơn bao giờ hết.


Ơn gọi nếu dùng một hình ảnh để diễn tả; tôi nghĩ đó là một viên ngọc quý được cất giữ trong một chiếc bình sành dễ vỡ. Viên ngọc ấy chính là hồng ân cao cả, là lời mời gọi yêu thương mà Thiên Chúa dành riêng cho từng người. Còn chiếc bình sành chính là phận người mong manh, đầy những bất toàn, mệt mỏi, có lúc nứt vỡ bởi những va đập của cuộc sống thường ngày.


Nhưng lạ thay, chính trong những giây phút yếu đuối tưởng chừng sẽ gãy đổ ấy, viên ngọc ơn gọi lại sáng lên lấp lánh, không phải vì sức riêng tôi, nhưng nhờ sự trung tín của Đấng đã chọn gọi tôi. Ngài không chọn tôi vì tôi mạnh mẽ, nhưng vì Ngài tin tôi có thể để cho Ngài mạnh mẽ trong tôi. Chúa không lấy khỏi tôi chiếc bình sành mong manh, nhưng Ngài luôn gìn giữ viên ngọc ấy bằng tình yêu không mỏi mệt.


Và thế, tôi lại tiếp tục bước đi, không phải trong sự hoàn hảo, nhưng trong niềm tín thác: rằng điều quý giá nhất trong đời tôi, ơn gọi thánh hiến vẫn đang được gìn giữ, được thanh luyện, và được chiếu sáng mỗi ngày, giữa đời thường tưởng chừng quá đỗi bình dị.


Ơn gọi, nếu ví như ly nước, thì tình yêu ban đầu là vị ngọt đầu môi, còn sự trung thành là chất nước trong đáy ly. Vị ngọt có thể phai, nhưng nước trong ấy, nếu giữ được sẽ là nguồn sống dài lâu.


Hãy cứ can đảm, cứ hồn nhiên, và cứ trung thành. Hãy để cho Chúa yêu thương các em mỗi ngày, và các em cũng đừng ngại yêu lại Ngài bằng chính cách sống nhỏ bé, âm thầm và vui tươi nơi cộng đoàn. Đôi khi, một nụ cười, một lời cầu nguyện âm thầm, hay một việc phục vụ khiêm hạ lại là cách rất đẹp để sống trọn lời khấn hôm nay.


Chị không có gì hơn ngoài lời cầu nguyện và sự đồng hành một cách âm thầm. Chị tin rằng, khi các em bám chặt lấy Chúa và bước đi từng bước một cách khiêm nhu, thì con đường đời tu sẽ không chỉ là thử thách, mà là hành trình khám phá ra một tình yêu không bao giờ cạn.


Giữ mãi tình yêu thuở ban đầu các em nhé. Trung thành cho đến hơi thở cuối cùng. Và đừng quên, chúng ta không bao giờ đơn độc trên hành trình dâng hiến.


Thương mến và cầu nguyện nhiều!


Nữ tu Têrêxa

Thứ Bảy, 28 tháng 6, 2025

Hãy phó thác mọi ưu tư trong Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ Maria

Bạn đang lo âu?

Hãy phó thác mọi ưu tư trong

Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ Maria

Cũng như mọi người mẹ tốt lành khác, Đức Trinh Nữ Maria luôn dịu dàng nhìn đến và an ủi trong những lúc ta lo âu. Khi Đức Maria được rước về Thiên Quốc để ở bên Chúa Giêsu, Con chí ái của Mẹ, Mẹ không hề đánh mất vai trò làm mẹ của mình. Nơi Thiên Quốc, tình mẫu tử Mẹ dành cho đoàn con được nhân lên gấp bội, và Mẹ trở thành mẹ của toàn thể nhân loại chúng ta.

Điều này rất quan trọng, vì nó nhắc nhớ ta rằng, vì Mẹ là Mẹ chúng ta, ta có thể tìm đến với Mẹ trong những cơn gian nan thử thách. Mẹ luôn nhìn đến chúng ta với ánh mắt đầy từ ái, và luôn dang rộng vòng tay đón nhận mọi lo âu, phiền muộn của ta. Hiệp thông với Con Mẹ, Mẹ có thể chuyển cầu những điều ấy với Người, và ban xuống những ân sủng đặc biệt để xoa dịu tâm hồn mỏi mệt của chúng ta.

Dưới đây là một lời nguyện được chuyển thể từ sách Raccolta, gợi nhớ chân lý ấy và mời gọi chúng ta tìm đến với Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria như một chốn an trú giữa những bão tố của cuộc đời.

“Lạy Trái Tim Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa, cũng là Mẹ chúng con, Trái Tim phản chiếu cách tuyệt vời Trái Tim Chúa Giêsu, luôn cảm thông trước mọi nỗi khốn cùng của chúng con 

Xin làm tan chảy cõi lòng giá lạnh của chúng con, và biến đổi chúng nên giống Trái Tim Chúa Giêsu.

Xin Mẹ nên con đường dẫn chúng con đến gần Chúa Giêsu; nên dòng suối thông truyền mọi ân sủng cần thiết cho phần rỗi của chúng con. 

Xin Mẹ nên nguồn trợ lực trong cơn thiếu thốn, nên niềm ủi an trong lúc gian nan, nên nguồn sức mạnh trong cơn cám dỗ, nên nơi nương ẩn trong cơn bách hại, nên cánh tay cứu giúp trong lúc nguy biến; nhưng hơn hết, trong cuộc chiến cuối cùng của chúng con ở đời này, vào giờ lâm tử.

Ôi ngọt ngào thay Trái Tim từ mẫu của Mẹ, và quyền năng biết bao khi hiệp nhất cùng Trái Tim Chúa Giêsu, mở ra cho chúng con suối nguồn của lòng thương xót, nơi nương náu vững bền, để một ngày kia chúng con được hợp tiếng cùng Mẹ nơi thiên quốc mà ca tụng Trái Tim Chúa Giêsu đến muôn thuở muôn đời. Amen.”

Nguồn: aleteia.org

Tác giả: Philip Kosloski

Chuyển ngữ: Nam Anh | CTV JESCOM – Truyền Thông Dòng Tên

Thứ Hai, 21 tháng 4, 2025

Nhớ về Cha – Vị Giáo hoàng của những “biên cương”


Văn phòng báo chí tòa thánh vừa loan tin Đức Thánh Cha Phan-xi-cô đã về với Chúa vào lúc 07.35 sáng (tức…. giờ VN) ngày 21 tháng 4 năm 2025. Tin tức ấy đã khiến không ít Kitô hữu bàng hoàng thương tiếc, dẫu biết rằng Ngài đã 88 tuổi, và ngày ngài rời bỏ chúng ta chắc không còn xa. Nhưng cho dù Ngài không còn ở với chúng ta nữa, thì trong tâm khảm chúng ta – những con cái của Hội Thánh Công Giáo, Ngài vẫn sẽ sống mãi như người Cha già tận tụy, đầy yêu thương, người thúc đẩy chúng ta tiến tới những biên cương mới của việc gặp gỡ Chúa và nhân loại.

Nói về Đức Thánh Cha Phanxico, chắc hẳn chúng ta không thể quên sự khiêm tốn và nghèo khó của Ngài. Chiếc đồng hồ Casio nhựa giá vài đô-la, đôi giày đen đã mòn, chiếc xe hơi nhỏ xíu cũ kỹ mà nhiều người cho là “không xứng tầm” với một nguyên thủ quốc gia, thủ lãnh tinh thần của hàng tỷ con người trên mặt đất: tất cả đã nói lên nhân đức của Ngài. 

 Và có ai mà không cảm động khi nhìn thấy Người Cha Chung của chúng ta quỳ gối xưng tội với một linh mục, khi Ngài cúi xuống rửa chân và hôn chân những tử tù, khi Ngài đặt một em bé lên ngai của Ngài và cho nó đội chiếc mũ trắng mà cả Giáo Hội tôn kính, thậm chí mơ ước một lần được chạm tới.

Đức Thánh Cha Phanxico cũng là Giáo Hoàng của những chuyến viễn du. Ngài đã thực hiện hơn 150 chuyến thăm viếng mục vụ nội trong nước Ý, đã thăm viếng hơn 120 quốc gia trong 12 năm triều đại Giáo Hoàng của mình. Theo nhận định của www.conversation.com, Ngài đã đi quãng đường xa hơn tất cả các Giáo Hoàng tiền nhiệm cộng lại. Đi đến những biên cương, những vùng xa xôi hẻo lánh và nghèo khó, những vùng bị gạt ra bên lề, để đưa những con người nghèo khó nơi đó trở thành tâm điểm chú ý của Giáo Hội và trần thế: đó chính là ưu tư lớn lao xuất phát từ con tim mục tử của Ngài.

Và còn biết bao biên cương khác mà Ngài đã hướng tới, và nhất là đã thúc đẩy chúng ta hướng tới trên con đường mục vụ: Làm sao để những người từng ly dị và tái hôn không cảm thấy mình bị bỏ rơi? Làm sao để cộng đồng LGBT không bị gạt ra bên lề tình thương của Chúa và Giáo Hội? Làm sao để tiếng nói của mọi người, kể cả người thấp cổ bé miệng, có thể được lắng nghe, trong lòng Giáo Hội và trong lòng thế giới?… Có lẽ những điều ấy đã thúc đẩy Ngài đến chỗ dốc sức kiến tạo một Giáo Hội hiệp hành. Không phải hiệp lại để hành nhau, mà là để cùng đi chung với nhau trong sự cảm thông và hy vọng. Có lẽ, Thượng Hội Đồng về Hiệp Hành đã vắt cạn tâm trí và con tim của Ngài, để rồi chỉ một thời gian ngắn sau khi Thượng Hội Đồng kết thúc, Ngài đã mãi mãi rời xa chúng ta. 

Cha ơi! Ngày hôm nay Cha rời bỏ chúng con. Nhưng chúng con nguyện sống sao cho xứng với con tim rộng mở của Cha – con tim hướng tới mọi biên cương địa lý và nhân loại – để trao ban tình thương vô biên của Thiên Chúa từ nhân. Xin Cha cầu cho chúng con, để chúng con thực sự hoán cải – đổi con tim, đổi cõi lòng – và trở nên những con người mới, con người Phục Sinh, con người có thể hiện diện ở mọi biên cương mà không bị cản trở, để trao ban niềm vui và sức sống thần thiêng cho con người, như Cha đã trao ban trong suốt cuộc đời trần thế của Cha. 

Tony Nguyễn, S.J.

Thứ Sáu, 7 tháng 3, 2025

Cầu nguyện cho Nữ giới

Công trình tạo dựng của Thiên Chúa, như trình thuật Sách Sáng Thế kể lại, sẽ không bao giờ có thể đạt tới đỉnh cao và đi đến sự trọn vẹn khi thiếu đi bóng dáng người nữ. Cảnh Địa Đàng sẽ thiếu đi nét tuyệt mỹ nào đó khi chưa có sự xuất hiện của Evà. Cuộc sống của Ađam cũng sẽ không thể nào tìm thấy hạnh phúc trọn vẹn nếu không có một người thiếu nữ nhẹ nhàng đi vào trái tim ông. Người nữ là một món quà vô cùng to lớn mà Tạo Hóa dành cho toàn thể chúng sinh. Chính người nữ giúp tạo thế quân bình cho sự sống, giúp trang điểm thêm cho bức tranh nhân gian hữu tình, khiến cho cuộc đời thêm ngọt ngào, thêm hương sắc.

Người phụ nữ mang đến cho ta những ngọt ngào giữa cuộc đời cay đắng, khỏa lấp ta bằng giọng nói nhẹ nhàng dễ thương. Trái tim của người phụ nữ tràn trề những cảm thông và cảm xúc. Giọt nước mắt người phụ nữ có sức làm tan chảy những cõi lòng đá lạnh khô khan nhất. Sức chịu đựng của người phụ nữ không điều chi có thể so sánh bằng. Cô đơn thay cuộc đời nào không có bóng hình người phụ nữ, tủi buồn thay kiếp sống nào không được người phụ nữ đỡ nâng.

Ta hãy nghĩ đến người bà, người mẹ, người chị của mình. Quanh năm suốt tháng chỉ âm thầm nơi xó bếp. Suốt ngày vật vã với biết bao công việc trong nhà. Nào là giặt đồ, nào là rửa chén, nào là dọn dẹp, nào là đi chợ nấu ăn. Và biết bao nhiêu công việc không tên khác nữa. Họ vẫn khiêm nhu làm những việc ấy như thể một sứ mạng Tạo Hóa đã trao cho, mà không một lời than van hay phản kháng. Khi gặp bất cứ chuyện rắc rối nào, người đàn ông thường bốc đồng nóng nảy, còn người phụ nữ thì cam chịu đợi chờ. Người đàn ông chinh phục người khác bằng lý trí và vũ lực, còn người phụ nữ thì dùng sự kiên nhẫn và nước mắt của mình để cảm hóa người ta. Tạo Hóa đã không ban cho người nữ sự cường tráng và vạm vỡ của cơ bắp, nhưng lại đặt vào trong cõi lòng họ một sức mạnh phi thường, giúp họ có thể chịu đựng được nhiều áp lực, giúp họ có thể hy sinh, giúp họ có thể gượng dậy dù có khi bị cuộc đời dày xéo và những đau đớn bủa vây. Người phụ nữ dùng con tim để suy nghĩ, và từ đó, họ có thể cảm nhận được nhiều điều, có thể thấu hiểu được nhiều chuyện mà lý trí chẳng thể nào hiểu nỗi. Tội lắm thay đứa trẻ nào thiếu đi sự chăm nom của người mẹ, buồn lắm thay cảnh gà trống nuôi con!

Thân phận của người phụ nữ là một thân phận yếu đuối và mỏng manh. Dù bên ngoài họ có mạnh mẽ thế nào đi chăng nữa, tận sâu trong cõi lòng, họ vẫn cần một bờ vai để tựa vào, một cánh tay để bám lấy, một chỗ dựa để ấp ôm. Giữa cuộc sống như ngọn gió đẩy đưa họ trăm bề, họ cần lắm một cánh hoa khi sinh nhật đến, một món quà nhỏ kỷ niệm ngày gặp nhau. Trái tim họ tuy cứng rắn, nhưng cũng dễ tổn thương vô cùng. Họ cũng cần được nâng niu chiều chuộng như một bảo vật quý giá, họ cũng thích nghe những lời khen chân thành, họ cũng muốn được quan tâm bằng một tình yêu nhẹ nhàng và sâu sắc. Cái người phụ nữ thật sự cần chưa hẳn là chỗ đứng cao sang trên ngai vàng lộng lẫy. Điều họ cần nhất có lẽ là một ngọn lửa tình yêu chân thật sưởi ấm cả trái tim mình. Không gì hạnh phúc hơn đối với một người phụ nữ khi họ tìm thấy một người yêu thương họ thật lòng và sẵn sàng hy sinh tất cả để đáp lại tình yêu mà họ dành cho người ấy.Với những hy sinh mà người phụ nữ dành cho thế giới, họ xứng đáng được hưởng những phần quà quý giá nhất, họ xứng đáng được dành cho những nụ cười bình yên và hạnh phúc nhất.

Chúng ta hãy dành ít phút cầu nguyện cho mọi người phụ nữ trên thế giới. Ta hãy cầu xin Chúa trả công cho những người bà, người mẹ, người vợ, người chị em, và tất cả những người phụ nữ đã xuất hiện trong đời ta, những người đã hy sinh cho ta, đã mang đến cho ta biết bao niềm vui và hơi ấm trong cuôc đời.

Xin cho không còn người phụ nữ nào phải lâm vào cảnh buông trôi cuộc sống mình nơi những tệ nạn và nghề nghiệp bất chính.

Xin cho họ biết lấy sự dịu ngọt để cảm hóa người khác, sống hiền hòa, và là chỗ dựa cho người nam, biết nâng khăn sửa túi cho chồng, biết vỗ về an ủi con cái, biết hiếu thuận và đối đãi tử tế với bố mẹ, ông bà.

Xin cho cành hoa tươi mà Thiên Chúa đã cắm vào trái đất này luôn lan tỏa nét đẹp và hương thơm tuyệt mỹ cho thế giới.

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Tại sao chúng ta cần Chúa Thánh Thần để sống “Con Đường Nhỏ”

Một người bạn Công giáo của tôi, khi nói về “con đường nhỏ” của thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, từng cho rằng: “Trở nên nhỏ bé thì thật là cao ...