Thứ Ba, 28 tháng 3, 2017

Anh đi tu

Ngày nhận được thư mời anh sẽ được lãnh chức Thánh, tôi chia vui với anh bằng một tấm thiệp mừng, vì lúc ấy tôi đang ở xa. Tôi không quên nhắc lại câu hỏi năm xưa của anh “anh vào Chủng Viện, em có muốn đi tu giống anh không”. Giờ anh là linh mục.  Tôi cũng là một nữ tu.
Anh hơn tôi một tuổi, học trước tôi một khóa trong những năm học đại học. Anh người miền Nam, tôi người miền Trung. Anh hiền lành và là một con chiên ngoan đạo. Còn tôi cứng đầu và cứng tin. Tuy anh và tôi có nhiều khác biệt, thế nhưng chúng tôi có chung một niềm đam mê – làm công tác xã hội. Và những cơ hội làm việc chung đó đã đưa tình bạn của chúng tôi đến gần nhau hơn.
Một tuần trước khi anh rời đất Sài Thành để bắt đầu chương mowischo cuộc đời sau những năm gắn bó nơi giảng đường, anh và tôi dành cho nhau chút thời gian cuối cùng. Tôi không ngạc nhiên khi biết anh sẽ đi tu, vì nhìn bề ngoài của anh đã giống thầy tu rồi. Nhưng tôi vẫn cảm thấy tiếc khi anh chọn chôn cuộc đời mình nơi cánh cửa tu viện. Anh hỏi tôi về những dự định cho tương lai, những niềm vui trong cuộc sống mà tôi sẽ xây dựng, ngay cả tuýp người đàn ông tôi sẽ chọn để cùng chung tay vun đắp mái ấm tương lai cho riêng mình… Tôi kể cho anh nghe về những dự định sau khi tốt nghiệp, nào là sẽ làm việc nơi này, đi nơi kia, lấy chồng năm nào, sống ở đâu… Anh vẫn cứ im lặng lắng nghe, còn tôi mặc sức luyên thuyên về những mơ mộng của mình. Anh chợt quay lại hỏi tôi “anh vào Chủng Viện, em có muốn đi tu giống anh không”? Tôi tròn xoe đôi mắt nhìn anh, ấp úng: “Anh đang nói đùa với em à, em vừa kể cho anh nghe những dự định của em mà”? Anh không nói thêm điều gì nữa và chúng tôi tiếp tục những câu chuyện khác.
Ra trường tôi tiếp tục đi làm nơi tôi đã làm việc bán thời gian khi còn là sinh viên. Ngày qua ngày đối diện với những bạn trẻ đang bị nàng tiên nâu chế ngự cuộc đời khiến tôi suy nghĩ nhiều hơn về mục đích sống và ý nghĩa cuộc đời. Chính tôi cũng như họ, đã chi xài tuổi trẻ của mình quá lãng phí. Tôi tự hỏi chính mình: “cuộc đời chỉ có vậy thôi sao”? Chính câu hỏi này như một sức mạnh vô hình thôi thúc tôi đi tìm kiếm điều mà mắt thường không thể nhìn thấy.
Tôi tìm.
Và tôi gặp.
Tôi gặp Ngài qua giờ chầu Thánh Thể mỗi ngày.
Tôi gặp Ngài.
Tôi gặp Ngài qua đặc sủng Đền Tạ Thánh Tâm Chúa Giê su mà các nữ tu đang sống.
Tôi gặp Ngài qua cuộc sống chứng tá của tình yêu trong công việc giáo dục dành cho các em nhỏ của các gia đình di dân.
Tôi gặp Ngài qua chính sự giản đơn và gần gũi trong cuộc sống hàng ngày.
Tôi gặp Ngài…
Gặp được Ngài, tôi khao khát được biết về Ngài nhiều hơn, và ao ước được trở  nên giống Ngài. Vậy là tôi âm thầm bỏ lại tất cả phía sau để hướng về phía trước bằng niềm  lẫn chút sợ hãi. Niềm tin vì chính cảm nghiệm bình an và hạnh phúc trong suốt thời gian tìm kiếm và tìm gặp. Sợ hãi vì tôi không biết điều gì chờ đợi tôi phía trước khi tôi xác định rõ ràng rằng gia đình sẽ TỪ tôi. Sợ hãi vì những chi phối xung quanh sợ hãi vì không chắc chắn rằng mình sẽ vượt qua được những thách đó mới. Nhưng tôi vẫn bước đi.
Tôi bước đi cho đến giai đoạn nhà tập năm thứ hai thì mới chính thức tin cho anh ấy rằng tôi đi tu. Tôi bảo anh rằng “ai cũng nói đi tu là sướng, nhưng với em đi tu khó quá, vậy sao em vẫn thích đi tu”. Đây cũng là thời gian những cản trở giữa gia đình và tôi cũng tạm được hóa giải. Anh vui và hạnh phúc với tôi.
Vậy là cũng gần mười ba năm rồi chưa một lần gặp lại nhau, cũng chẳng mấy khi buồn hỏi thăm nhau với lý do “bận rộn”. Hôm nay ngồi viết câu chuyện đời tu của mình, tôi nhớ đến anh thật nhiều, người luôn trả lời những câu hỏi của tôi bằng nụ cười.
Thiên Chúa luôn có những bất ngờ cho cuộc đời mỗi người. Điều quan trọng là chúng ta đón nhận những bất ngờ này thế nào và đáp trả lại lòng quảng đại với Ngài được bao nhiêu.
Còn bạn?
Nữ Tỳ

Thứ Bảy, 18 tháng 3, 2017

Xin thương xót con

Đối diện với Thượng đế cao cả và thánh thiện, con người cảm nhận được thân phận mỏng manh, tội lỗi của mình. Ý thức về thân phận nhỏ bé và bất xứng, họ thốt lên: “Xin thương xót con!”. Lời cầu nguyện ấy, vừa tuyên xưng Thiên Chúa là Đấng quyền năng, vừa thú nhận thân phận tội lỗi của kiếp thụ tạo. Lời kêu van ấy cũng mang tâm tình tín thác, gửi gắm niềm hy vọng nơi Đấng có thể ban ơn che chở trong những lúc đau khổ ngặt nghèo.
Trong Tin Mừng, ta thấy các tác giả ghi lại nhiều lần lời cầu xin này. Đó là lời van xin thống thiết của những người phong cùi bị kỳ thị và xa lánh; của người sĩ quan có đứa con thập tử nhất sinh; của người bệnh liệt lào 38 năm bên bờ hồ Bếtđata; của người đàn bà xứ Canaan có con gái đang bị quỷ ám; của người cha có con gái vừa chết. Tóm lại, lời van xin này diễn tả nỗi thống khổ của những phận đời bất hạnh. Họ rất cần đến lòng thương xót của Thiên Chúa. Trước những lời van xin này, Chúa Giêsu đã chữa lành họ. Người đã ban cho họ những điều họ đang khao khát tìm kiếm. Họ được chữa lành không chỉ nỗi đau thể xác, mà còn nỗi đau tinh thần. Nhờ các phép lạ Chúa Giêsu đã làm, họ tìm thấy sức mạnh, niềm tin và nghị lực cho cuộc sống. Lời kinh xin thương xót thật nhiệm màu, qua đó, Thiên Chúa lấp đầy khát vọng sâu xa của con người. Ngài ban cho họ những điều họ kêu xin.
“Xin thương xót con!” – lời kinh diễn tả sự hoàn toàn phụ thuộc vào Chúa. Qua lời kinh này, họ tuyên xưng Chúa là chỗ dựa duy nhất của cuộc đời, khi mà những nguồn phù trợ khác đã trở nên bất lực. Quả vậy, nếu Chúa không dựng nên ta và không giữ gìn che chở, con người chỉ là hư vô, như hạt cát trong sa mạc, tựa giọt nước giữa đại dương. Nhờ Chúa quan phòng, chúng ta hiện hữu và sống động trên đời. Cha mẹ sinh ra chúng ta, nhưng Chúa mới là Đấng tạo dựng nên chúng ta. Ngài tạo nên chúng ta nên hình hài trong dạ mẫu thân. Một ngày nào mà Chúa không giữ gìn che chở, vũ trụ và con người sẽ trở lại với hư vô và tan thành mây khói. Lời kinh xin thương xót nói lên mối tương quan căn bản ấy, để nhận ra Thiên Chúa là Cha, Đấng luôn đồng hành với phận người để san sẻ yêu thương và phù trì che chở. Xin Ngài thương xót còn là lời kinh của lòng hiếu thảo, như con cái thân thưa với cha mình. Những lời yêu mến, dù có được lặp lại ngàn lần trong ngày, vẫn không thừa, vì nó diễn tả sự gắn bó, tri ân, chứa đựng tình cảm ngọt ngào.
“Xin thương xót con!” – lời kinh diễn tả tâm tình sám hối. Vua Đavít sau khi phạm tội, đã đau đớn vì những sai lỗi của mình. Với lời khuyên của Ngôn sứ Nathan, Đavít đã khóc lóc ăn năn và viết nên áng thơ tuyệt vời mang tên “Xin thương xót con”. Lời kinh này diễn tả tâm trạng của một tội nhân, vì cảm thấy mình xúc phạm đến Chúa, phản nghịch cùng Ngài. Tác giả mang một tâm hồn tan nát, một trái tim quặn đau và thành tâm sám hối ăn năn, xin Chúa tha thứ mọi lỗi lầm. Nhận ra tội lỗi của mình, ông xin Chúa thanh tẩy và ban cho ông một trái tim mới. Lời kinh “Xin thương xót con” đã giúp Đavít đón nhận ơn tha thứ. Lời kinh ấy cũng làm cho ông trở thành mẫu mực cho lòng sám hối chân thành của các tội nhân (x. Tv 50). Lời kinh này được Phụng vụ của Giáo Hội xướng lên nhiều lần trong Mùa Chay thánh, để giúp các tín hữu có tâm tình sám hối, cầu xin Chúa ban một trái tim mới để tiếp tục những bước đường tương lai được ân sủng nâng đỡ phù trì.
“Xin thương xót con!” – lời kinh của niềm hy vọng. Nếu chúng ta xin Chúa thương xót, là vì chúng ta xác tín vào tình thương và tha thứ của Chúa. Mạc khải nói với chúng ta, “Người nổi giận, giận trong giây lát, nhưng yêu thương, thương suốt cả đời” (Tv 29,6). Lịch sử dân Do Thái đã chứng minh với chúng ta, biết bao lần họ vấp ngã, phạm tội thử thách Chúa, nhưng mỗi lần họ sám hối ăn năn là Chúa lại thương tha thứ. Chúa Giêsu đã diễn tả tình thương của Thiên Chúa trong lời giáo huấn của Người, đặc biệt trong câu chuyện người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình. Chúa không lên án chị, nhưng khuyên chị hãy về và đừng phạm tội nữa (x. Ga 8,1-11). Vì thế, khi kêu cầu với Chúa để van xin lòng thương xót của Ngài, chúng ta tin vào quyền năng của Ngài với niềm xác tín Chúa sẽ ra tay cứu giúp chúng ta.
“Xin thương xót chúng con! – lời kinh không chỉ nhân danh cá nhân, mà còn là lời van xin mang tính tập thể. Đó là lời cầu nguyện cho người khác và với người khác. Quả vậy, sống trên đời này, mọi người đều liên đới với nhau, trong tội lỗi cũng như trong công phúc. Tội lỗi làm tổn thương mối tương quan với Chúa và với anh chị em mình. Lời kinh thương xót, nếu được xướng lên cách thành tâm, sẽ như thuốc thiêng chữa lành bệnh tật và hàn gắn những đổ vỡ mất mát giữa con người với nhau, để cùng xây dựng một thế giới an hòa, nhân ái.
 “Xin thương xót chúng con! – lời kinh không chỉ hướng về con người, mà còn bao gồm cả các thụ tạo. Thánh Phaolô đã viết cho tín hữu Rôma: “Muôn loài thọ tạo những ngong ngóng chờ ngày Thiên Chúa mạc khải vinh quang của con cái Người. Quả thế, muôn loài đã lâm vào cảnh hư ảo, không phải vì chúng muốn, nhưng là vì Thiên Chúa bắt phải chịu vậy. Thật vậy, chúng ta biết rằng: cho đến nay, muôn loài thụ tạo cùng rên xiết và quằn quại như sắp sinh nở” (Rm 8,19-23). Khi xướng lên lời kinh thương xót, con người thay lời cho thụ tạo, diễn tả nỗi quặn đau mong chờ được giải thoát. Đây cũng là lời mời gọi con người hãy quan tâm đến các thụ tạo và góp phần giải thoát chúng khỏi nguy cơ hủy hoại. Bởi lẽ, vũ trụ thiên nhiên đã bị nhuốm màu tội lỗi do con người gây ra. Chúng đã mất đi vẻ đẹp nguyên thủy do Thiên Chúa ban tặng. Lời kinh thương xót kêu cầu phúc lành của Chúa, với ước mong con người hãy đồng tâm hiệp lực để xây dựng một thế giới an bình, bảo vệ môi trường thiên nhiên để duy trì vẻ đẹp huy hoàng, phản ánh vinh quang Thiên Chúa.
“Xin thương xót chúng con!” – lời kinh giúp các tín hữu dọn mình trước khi cử hành phụng vụ Thánh Thể. Con người bất xứng và tội lỗi, muốn dâng lời ca tụng Chúa và đến gần Ngài, họ phải được thanh tẩy và gột rửa những lỗi lầm. Lời kinh thương xót được xướng lên ba lần, như tiếng kêu nài van xin ơn trên, để được thanh tẩy và an vui, xứng đáng dâng lên Chúa lời ca tụng. Nơi một số tôn giáo khác ngoài Công giáo, chúng ta cũng thấy những thực hành thanh tẩy trước cử hành việc thờ tự.
 “Xin thương xót con! – đó là lời kinh thiết tha của mỗi người tín hữu chúng ta trong Mùa Chay thánh. Hãy đọc lời kinh này với Đức tin vững vàng, với lòng cậy trông mạnh mẽ và với tâm tình yêu mến thiết tha. Lời kinh này không chỉ là một công thức được xướng lên ngoài môi miệng, nhưng phải là một tâm tình xuất phát từ tâm hồn, cùng với thiện chí sống xứng đáng để đón nhận lòng xót thương của Chúa. Cảm nhận được lòng Chúa xót thương, chúng ta cũng mang trong mình trái tim biết thương xót “như Chúa Cha”, để góp phần quảng diễn tình thương của Ngài đối mọi người.
17/3/2017
ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên

Thứ Hai, 13 tháng 3, 2017

Bốn năm, bốn lời cám ơn của Giáo hội Ý


Các Giám mục Ý nói lên “bốn lời cám ơn” với Đức Phanxicô:
Cám ơn cha đã để lòng thương xót vào trọng tâm triều giáo hoàng của cha, lòng thương xót là sự gặp gỡ của chúng con với gương mặt của Chúa Giêsu Kitô.
Cám ơn về tấm gương đơn giản, gần gũi của cha, qua đó cha đã trao truyền cho thế giới sự thật của sứ điệp Tin Mừng.
Cám ơn cha về sự nhắc nhở không ngừng của cha, để chúng con không ở trong loại văn hóa dửng dưng và tuyệt vọng, nhưng sống trong sự gần gũi của lòng tin tưởng và hy vọng.
Cám ơn cha vì cha luôn xin chúng con cầu nguyện, cầu nguyện là khí cụ chúc phúc và điều tốt lành thiêng liêng cho tất cả chúng con.

Sám Hối

Mỗi khi Mùa Chay về, lời mời gọi sám hối lại vang lên, như tiếng nhắc nhở thúc giục chúng ta canh tân thay đổi cuộc đời. Sám hối là hành vi nhận ra những lỗi lầm thiếu sót của mình, đồng thời trở về với Chúa để nối lại tình thân nghĩa với Ngài. Sám hối cũng giúp chúng ta trở về với anh chị em để sống trong hòa thuận an vui. Thực ra, người tín hữu được mời gọi sám hối mỗi ngày, bởi lẽ họ sống trong cuộc đời đầy những cám dỗ bon chen tính toán. Tuy vậy, Mùa Chay là “mùa thuận tiện” để chúng ta sám hối chân thành, nhờ đó, nhận được ơn tha thứ của Chúa. Sám hối, chay tịnh và nguyện cầu, đó là ba thực hành truyền thống có liên quan mật thiết với nhau, đồng thời diễn tả vẻ đẹp của đức tin và tính toàn vẹn của đời sống người Kitô hữu, trong mối tương quan hướng về Chúa và tha nhân.
Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta phải đối diện với biết bao cám dỗ. Trước những mời gọi ngọt ngào mà chứa đầy nọc độc nguy hiểm, chúng ta dễ bị ngã gục và đánh mất chính mình. Nói cách khác, chúng ta dễ phạm tội xúc phạm đến Chúa và mất lòng anh chị em. Sám hối là chân thành thẳng thắn nhìn nhận những tội lỗi của mình, nghiêm túc theo ánh sáng của lương tâm soi rọi vào tâm hồn, để lượng giá những hành vi cử chỉ là tốt hay xấu. Giáo lý công giáo dạy chúng ta, khi phạm tội, chúng ta không chỉ xúc phạm đến những người bị thiệt thòi xung quanh, nhưng còn xúc phạm đến Chúa. Bởi lẽ Chúa dạy chúng ta hãy làm điều lành, tránh những điều dữ, nhưng chúng ta thường có khuynh hướng làm ngược lại điều Chúa dạy. Một khi thẳng thắn nhận ra những khuyết điểm của mình, chúng ta mới có thể đón nhận ơn tha thứ của Chúa cũng như sự thông cảm của anh chị em, đồng thời thay đổi cuộc sống, từ bỏ tội lỗi và nên hoàn thiện. Chân thành nhận ra lỗi lầm của mình cũng giống như một bệnh nhân đến gặp thày thuốc. Thiếu sự chân thành, thày thuốc không thể đoán bệnh và đề nghị một phác đồ chữa trị hiệu quả.
Sám hối không chỉ dừng lại ở một tình trạng tâm lý hối tiếc về những điều xấu đã làm, nhưng lòng sám hối đích thực được thúc đẩy bằng lòng yêu mến Chúa. Khi chúng ta cảm nhận được sự tốt lành của Chúa, chúng ta càng đau buồn vì đã xúc phạm đến Ngài. Tâm trạng hối tiếc này cũng giống như cảm nhận về sự lạm dụng lòng tốt của một người làm ơn cho mình, đi ngược lại với ý muốn và đã phản bội người đó. Giáo lý truyền thống phân biệt ăn năn tội “Con-tri-xong – Contritio” (ăn năn tội cách trọn) và ăn năn tội “A-tri-xong – Attritio” (ăn năn tội cách chẳng trọn). Ăn năn tội cách trọn là hối tiếc về những lầm lỗi, vì nhận ra Chúa tốt lành vô cùng. Ăn năn tội cách chẳng trọn là cảm thấy sợ hãi vì những hình phạt của Chúa sẽ giáng xuống trên những ai đã phạm tội. Nói cách khác, ăn năn tội cách trọn là hành vi được thúc đẩy bằng lòng mến, và cố gắng xa lánh tội để chuộc lỗi và để thể hiện lòng mến Chúa. Ăn năn tội cách chẳng trọn là sợ hãi Chúa và hình phạt của Ngài. Lối phân biệt này hiện nay không còn thông dụng nữa, nhưng thiết tưởng, chúng ta có thể coi đó như từng bước của tiến trình sám hối. Trước hết là sợ hãi, sau đó là mến yêu. Trước đó thuần túy là tình trạng tâm lý, sau đó là sự sám hối chân thành, với thiện ý chừa bỏ tội lỗi.
Sám hối không chỉ là một công thức hay một thói quen chiếu lệ, nhưng là một thực hành đạo đức, đi liền với tâm tình cầu nguyện, việc xưng thú tội lỗi và hứa với Chúa sửa lại những lỗi lầm. Giáo lý truyền thống nhắc đến 4 bước của lộ trình hòa giải: Một là xét mình, hai là ăn năn dốc lòng chừa, ba là xưng tội, bốn là đền tội (Kinh Bản hỏi). Như thế, hành vi sám hối chỉ mang lại những hiệu quả thiết thực, khi chúng ta thành khẩn xưng thú với Chúa qua thừa tác viên của Bí tích Hòa giải, đồng thời hứa với Chúa chừa bỏ tội lỗi và những cơ hội có thể dẫn đến việc phạm tội. Khái niệm “đền tội” lâu nay cũng bị nhiều người hiểu lầm. Khi một hối nhân xưng tội, các cha giải tội thường chỉ dẫn việc đền tội. Mục đích của việc đền tội là để làm nguôi cơn giận của Chúa, đồng thời sửa lại những lỗi lầm đã xúc phạm hoặc những thiệt hại lỗi công bằng đối với người bị thiệt thòi. Thông thường, các cha giải tội thường khuyên hối nhân đọc một vài kinh như kinh Lạy Cha, kinh Mười Điều răn hay kinh Tin Kính… Trong suy nghĩ của nhiều người, việc đọc kinh đó là “đền tội”. Vô tình chúng ta coi việc thân thưa với Chúa những lời kinh lại là những hình phạt. Tâm tình con thảo đối với Cha hiền trở thành một gánh nặng. Hơn nữa, nếu lăng mạ người khác hoặc lỗi công bằng với những người xung quanh, mà chỉ đọc một hai kinh như vậy, thì quá dễ dàng! Điều này đã gây nên quan niệm sai lạc nơi một số tín hữu. Họ cho rằng cứ phạm tội, thậm chí những tội trọng như phá thai, trộm cắp, rồi xưng tội và chỉ đọc vài kinh đền tội là xong, quá nhẹ nhàng và dễ dãi! Thực ra, nếu hối nhân được đề nghị đọc một vài kinh sau khi xưng tội, thì đó chỉ là những gợi ý cầu nguyện để xin ơn tha thứ, đồng thời thể hiện thiện chí của mình. Xin đừng coi lời cầu nguyện là “hình phạt”, nhưng đó là tâm sự thân thiết của chúng ta với Chúa, như tâm tình của một người con thảo với cha hiền, để giãi bày lòng yêu mến biết ơn chân thành. Việc đền tội đúng nghĩa, đó là sửa lại những lỗi lầm, đền bù những thiệt hại về tinh thần cũng như vật chất, làm hòa với những người mình đã lỡ xúc phạm. Bí tích Hòa giải giúp chúng ta lãnh nhận ơn tha thứ của Chúa vì các tội chúng ta đã phạm, nhưng còn hậu quả của tội (ta thường gọi là vạ, hoặc hình phạt do tội), chúng ta có được tha hay không còn tủy thuộc mức độ thành tâm và thiện chí sửa lại hậu quả tội lỗi của chúng ta.
Nơi não trạng của một số tín hữu ngày nay, việc lãnh nhận Bí tích Hòa giải bị lơ là, thậm chí coi thường. Xin nhắc lại Luật của Giáo Hội “xưng tội trong một năm ít là một lần”. Trả lời câu hỏi trong cuộc phỏng vấn của Radio Renascença ngày 14-9-2015: “Đức Thánh Cha xưng tội bao lâu một lần?”, Vị Giáo Hoàng mang tên Phanxicô đã trả lời: Mỗi 15 hay 20 ngày. Tôi xưng tội với một cha người Pháp, cha Blanco, người ân cần đến đây và nghe tôi xưng tội. Và tôi chưa bao giờ phải gọi xe cứu thương để đưa cha về nhà, trong trường hợp cha sốc vì nghe các tội của tôi cả”. Những bậc thày về tu đức cũng khuyên chúng ta thường xuyên giao hòa với Chúa qua Bí tích này, nhờ đó, chúng ta tìm được tâm hồn thanh thản, an vui, vì “phúc cho những ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn xem Thiên Chúa” (Mt 5,8). Đức Thánh Cha Phanxicô đã khẳng định: tòa giải tội không là tòa để lên án, nhưng là nơi trải nghiệm lòng thương xót và ơn tha thứ. Ngài nói với các linh mục: “Truyền thống dạy cho chúng ta biết, khi ngồi tòa giải tội, anh em có hai vai trò, vai trò bác sĩ và vai trò quan tòa. Bác sĩ để chữa lành, quan tòa để xá tội”.
Như đã nói ở trên, sám hối không chỉ là thực hành đạo đức của Mùa Chay, nhưng là việc làm hằng ngày của người tín hữu. Cụ thể, trước khi cử hành thánh lễ, chủ sự cùng với cộng đoàn phụng vụ, đều khiêm tốn nhìn nhận những lỗi lầm của mình qua kinh “Thú nhận” và kinh “Thương xót”. Thanh tẩy tâm hồn trước khi tế lễ là một nghi thức có thể thấy trong nhiều tôn giáo, tín ngưỡng. Nghi thức này giúp cho con người trở nên tinh tuyền, xứng đáng trình diện trước các vị thần linh. Một khi tâm hồn được thanh tẩy, lòng thành của con người được Thượng đế chứng giám và những ước nguyện của họ được Ngài chấp nhận. Người nào nghiêm túc xét mình và năng sám hối sẽ dễ dàng tiến thân trong hành trình hoàn thiện. Họ dễ dàng lượng giá những hành vi và lối sống hiện tại của mình, nhận ra con đường của mình đang đi là đúng hay sai, kịp thời sửa lại nếu có những lạc lối và bước đi trên con đường ngay thẳng chính trực.
+ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên

Kinh Truyền tin với Đức Thánh Cha- Ngày 12 tháng 3 năm 2017


VATICAN. Trong buổi đọc kinh Truyền Tin trưa chúa nhật 12-3-2017 với 40 ngàn tín hữu tại Quảng trường Thánh Phêrô, ĐTC mời gọi các tín hữu chiêm ngắm giá trị của thập giá trong đời sống của mình.
Trong bài huấn dụ ngắn trước khi đọc kinh, ĐTC đã diễn giải ý nghĩa bài Tin Mừng kể lại biến cố Chúa Giêsu hiển dung trên núi trước mặt 3 môn đệ, và rút ra những kết luận thực hành về chỗ đứng của thập giá trong đời sống tâm linh của các tín hữu.
 Bài Huấn Dụ của ĐTC
Anh chị em thân mến, chào anh chị em!
Tin Mừng chúa nhật thứ hai mùa chay trình thuật sự hiển dung của Chúa Giêsu (Xc Mt 17,1-9). Ngài đưa ba tông đồ: Phêrô, Giacôbê và Gioan ra một nơi riêng và cùng với họ lên một núi cao, và tại đó đã xảy ra hiện tượng lạ thường này: khuôn mặt Chúa Giêsu ”sáng chói như mặt trời và áo Ngài trắng như ánh sáng” (v.2). Qua đó Chúa chiếu tỏa nơi chính bản thân Ngài vinh quang Thiên Chúa mà ta có thể đón nhận với niềm tin trong lời giảng và những cử chỉ lạ lùng của Ngài. Và trong cuộc hiển dung trên núi, có sự xuất hiện của Ông Môisê và Elia, ”chuyện vãn với Ngài” (v.3).
Sự sáng ngời trong biến cố lạ thường này nói lên mục tiêu của biến cố: đó là soi sáng tâm trí các môn đệ để họ có thể hiểu rõ ràng Thầy mình là ai. Đó là một tia sáng bất chợt mở ra mầu nhiệm Chúa Giêsu và soi sáng toàn thể con người và cuộc sống của Ngài.
Nay Chúa Giêsu đã quyết liệt tiến về Jerusalem, nơi Ngài sẽ bị kết án tử, chịu đóng đanh, Ngài muốn chuẩn bị các môn đệ trước cớ vấp phạm quá mạnh mẽ để nâng đỡ đức tin của họ, và đồng thời loan báo sự sống lại của Ngài, bằng cách tỏ ra mình là Đấng Messia, Con Thiên Chúa. Thực vậy, Chúa Giêsu chứng tỏ mình là Đấng Messia khác với mong đợi của nhiều người: họ mong chờ một vị vua quyền thế và vinh hiển, nhưng Chúa tỏ mình như một đầy tớ khiêm hạ và vô phương tự vệ: Ngài không tỏ mình như một chúa tể giàu sang, một dấu chỉ phúc lành, nhưng như một người nghèo hèn, không có nơi tựa đầu; không phải như một tổ phụ đông con nhiều cháu, nhưng như một người độc thân chẳng có nhà cũng chẳng có tổ. Quả thực đó là một mặc khải đảo lộn của Thiên Chúa và dấu chỉ gây ngỡ ngàng nhất của cớ gấp phạm này chính là thập giá. Nhưng chính qua thập giá mà Chúa Giêsu đạt tới sự phục sinh vinh hiển.
 ĐTC nói thêm rằng: “Chúa Giêsu hiển dung trên núi Tabor, Ngài muốn chứng tỏ cho các môn đệ vinh quang của Ngài không phải để tránh cho họ khỏi phải đi qua thập giá, nhưng để chỉ cho thấy thập giá dẫn tới đâu. Ai chết cùng với Chúa Kitô thì sẽ cùng sống lại với Chúa Kitô. Ai cùng Ngài chiến đấu, thì sẽ cùng Ngài chiến thắng. Đó là sứ điệp hy vọng mà thập giá của Chúa Giêsu chứa đựng, nhắn nhủ chúng ta vững mạnh can đảm trong cuộc sống. Thập giá Kitô không phải là một đồ trang trí nhà cửa hoặc một thứ nữ trang để đeo, nhưng là một lời mời gọi yêu thương, qua đó Chúa Giêsu tự hy sinh để cứu vớt nhân loại khỏi sự ác và tội lỗi. Trong mùa chay này, chúng ta hãy sốt sắng chiêm ngắm ảnh Thánh Giá; đó là biểu tượng đức tin Kitô, biểu tượng Chúa Giêsu, Đấng đã chịu chết và sống lại vì chúng ta. Chúng ta hãy làm sao để Thập Giá đánh dấu những giai đoạn trong hành trình mùa chay để ngày càng hiểu rõ hơn sự nặng nề của tội lỗi và giá trị hy tế qua đó Chúa Cứu Chuộc đã cứu chuộc chúng ta”.
Và ĐTC kết luận rằng: “Đức Trinh Nữ Maria đã biết chiêm ngắm vinh quang của Chúa Giêsu ẩn náu trong nhân tính của Ngài. Xin Mẹ giúp chúng ta biết ở với Chúa trong kinh nguyện âm thầm, hãy để mình được soi sáng nhờ sự hiện diện của Chúa, để mang vào trong tâm hồn một phản chiếu vinh quang của Chúa, qua những đêm đen tối nhất.”
 Chào thăm
Sau khi ban phép lành, ĐTC đã thân ái chào thăm mọi người hiện diện, các tín hữu Roma và tại bao nhiêu nơi khác trên thế giới. Ngài đặc biệt nhắc đến các tín hữu đến từ Freiburg và Mannheim bên Đức, cũng như những người đến từ Liban, và những người tham dự cuộc chạy đua đường trường ở Bồ đào nha.
 ĐTC cũng chào thăm các nhóm giáo dân đến từ một số giáo xứ, các bạn trẻ ở thành Lodi đang chuẩn bị tuyên xứng đức tin, các học sinh ở Dalmine và Busto Arsizio, và ca đoàn các bạn trẻ ”Từng giọt nước” ở Bergamo, bắc Italia.
 Viếng thăm giáo xứ
Ban chiều cùng ngày 12-3-2017, ĐTC đã viếng thăm giáo xứ Thánh nữ Maddalena di Canossa và đây là giáo xứ thứ 3 ở Roma được ngài viếng thăm kể từ đầu năm đến nay và là xứ đạo thứ 14 được ĐTC Phanxicô viếng thăm kể từ khi làm GM giáo phận này.
Giáo xứ thánh Maddalena di Canossa cũng thuộc vùng ”ngoại ô” của giáo phận Roma và tọa lạc ở mạn tây bắc, được thành lập năm 1988 và giao cho các cha dòng nam tử bác ái thánh Canossa coi sóc. Đây là một giáo xứ sinh động, gồm nhiều gia đình trẻ. Năm ngoái có 55 hài nhi được rửa tội.
Khi đến giáo xứ vào khoảng 4 giờ chiều, ĐTC gặp các em bé học giáo lý, trả lời các câu hỏi của các em, ngài cũng gặp nhóm hướng đạo sinh, rồi một nhóm các nữ tu dòng Nữ tử bác ái thánh Canossa cùng với nữ tu tổng quyền. Sau đó ĐTC thăm các bệnh nhân, người già và gia đình các em bé được rửa tội trong năm ngoái, rồi gặp các nhân viên mục vụ, các giáo lý viên và những người thiện nguyện của Caritas. Hiện nay Caritas giáo xứ đang đồng hành và giúp đỡ 50 gia đình gặp khó khăn, kể cả những người ở ngoài lãnh thổ giáo xứ.
Trước khi cử hành thánh lễ, ĐTC giải tội cho 4 giáo dân, gồm 1 thiếu niên, một thanh niên và 2 người lớn một nam một nữ.(Radio Vatican)
 G. Trần Đức Anh OP

Thứ Sáu, 3 tháng 3, 2017

Thiên Chúa mang lấy những thương tích của chúng ta


Mở đầu mùa chay với tiếng vang gọi mời sám hối, chúng ta được mời gọi nhìn vào thực tại với ba nét: thứ nhất là con người, thứ hai là Thiên Chúa, thứ ba là con đường.
Thực tại về con người
Thực tại là con người phải lựa chọn giữa thiện và ác. Thiên Chúa đã ban cho chúng ta tự do, và chúng ta phải thực hiện việc chọn lựa. Thế nhưng, Chúa không bỏ mặc chúng ta một mình, Ngài ban cho chúng ta các điều răn để dẫn đường chỉ lối. Tiếp đến, thực tại về Thiên Chúa là điều rất khó hiểu đối với các môn đệ. Các ông không hiểu được con đường thập giá của Chúa Giêsu. Bởi lẽ Chúa Giêsu là Thiên Chúa đã mang lấy trọn vẹn thân phận phàm nhân chỉ trừ tội lỗi. Nếu không có Thiên Chúa thì đã không có Chúa Kitô. Nếu tin vào Thiên Chúa mà không tin vào Đức Kitô, thì vị Chúa ấy không thực.
Thực tại về Thiên Chúa
Thực tại về Thiên Chúa, chính là Thiên Chúa làm người, Thiên Chúa nơi Đức Kitô, vì chúng ta và để cứu độ chúng ta. Khi chúng ta quay lưng lại với thực tại này, chúng ta cũng quay lưng lại Thập giá Chúa Kitô, và khi đó chúng ta đi ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa, đi ra khỏi con đường cứu độ của Thiên Chúa. Con đường của Thiên Chúa là thế này: Ngài đã đến với chúng ta, đến bên chúng ta để cứu chúng ta, và chết vì chúng ta. Đó là thực tại về Thiên Chúa.
Có một cuộc đối thoại giữa một người theo thuyết bất khả tri và một tín hữu. Người theo thuyết bất khả tri với thiện ý, đã hỏi người tín hữu rằng: “Đối với tôi, bằng cách nào mà có thể… Vấn đề là bằng cách nào mà Đức Kitô là Thiên Chúa, điều này tôi không hiểu. Đức Kitô là Thiên Chúa hay sao?”. Người tín hữu đáp lại: “Vâng, với tôi, đây không phải là vấn đề. Vấn đề là làm sao Thiên Chúa lại không là Đức Kitô”.
Thực tại về Thiên Chúa là: Đức Kitô chính là Thiên Chúa, Thiên Chúa đã trở nên người phàm, và đây là nền tảng để thực thi lòng thương xót. Các thương tích của anh chị em chúng ta cũng là những thương tích của Chúa Kitô. Chúng ta đều biết rằng, không thể sống mùa chay mà không sống thực tại này. Tất cả chúng ta cần thay đổi bản thân, không phải với một Đức Kitô kiểu trừu tượng mông lung, nhưng là với một Đức Kitô cụ thể bằng xương bằng thịt, Đấng là Thiên Chúa làm người.
Thực tại về con đường
Thực tại thứ ba là con đường. Chúa Giêsu nói: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo”.
Con đường ấy chính là con đường của Chúa Kitô, là bước theo Đức Kitô để thực thi ý muốn của Chúa Cha như Đức Kitô đã làm, là từ bỏ chính mình và vác thập giá mình hằng ngày mà theo Chúa Kitô. Không làm những gì mình muốn, nhưng là làm những gì Đức Kitô muốn, đó là theo Đức Kitô. Ngài đã nói về con đường từ bỏ, con đường liều mất mạng sống để rồi được lại sự sống. Đó là con đường hy sinh mạng sống, hy sinh những gì mình muốn, hy sinh những tiện nghi, để phục vụ tha nhân, để phụng thờ Thiên Chúa. Đó là con đường của Chúa Giêsu. Đó là con đường phải lẽ.
Như thế, chỉ có một con đường chắc chắn, là bước theo Chúa Giêsu chịu đóng đinh, con đường thập giá. Đó là thực tại với ba nét đặc thù: thực tại về con người, thực tại về Thiên Chúa, thực tại về con đường. Đó là chiếc la bàn giúp người Kitô hữu không bị lạc lối.
Tứ Quyết SJ(Radio Vaticana 02.03.17)

Thứ Tư, 1 tháng 3, 2017

VĨNH BIỆT ĐỨC CHA GIUSE

VĨNH BIỆT ĐỨC CHA GIUSE
Thành kính phân ưu với giáo phận Phan Thiết.

Gác lại tuổi đời sáu mươi lăm
Cha đã ra đi đất mẹ nằm
Còn tìm thấy gì tang thương đó
Chỉ lệ âm thầm lặng trong tâm.

Tiếng hát ngọt  ngào của  hôm nao
Cha dạy hy sinh "Chút  Xíu" nào
Chút Xíu  dễ thương và lắng đọng
Chỉ Chút Xíu thôi Yêu gởi trao.

Gió vẫn Vi Vu...Thông lao xao
Phan Thiết hôm nay lệ tuôn trào
Sáng nay Chay Thánh giờ mở cửa
Chúa đón cha về bay vút cao.

Sẽ chẳng còn nghe bài giảng cha
Dạy dỗ chúng con bao thiết tha
Vần thơ khúc hát ca tụng Chúa
Nâng con gặp Chúa Đấng hiền hòa.

Dẫu biết tử ly sẽ đớn đau
Cha về với Chúa xin nguyện cầu
Lòng con tin tưởng quan phòng Chúa
Sẽ đón hồn cha thoát  khổ đau.

Kim Hải Phạm Thị